Ung thư dạ dày

18 Tháng Tư, 2016
Ung thư dạ dày

Ung thư dạ dày

Ung thư dạ dày phân bố không đều trên thế giới. Tỉ lệ mắc cao nhất ở Nhật Bản, cao ở Nam Mỹ, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Đông âu, Trung Quốc và Đông Nam Á. Tần số thấp ở Bắc Mỹ, Cô oét, Ấn Độ, Nigieria và Úc. Tần số cao vừa ở các nước Tây Âu.

Ở Pháp theo số liệu thống kê của J.L. Gouzi, ung thư dạ dày chiếm 5% các loại ung thư. Đứng vị trí thứ 4 sau ung thư đại trực tràng (14%), ung thư vú (12%), ung thư phổi (11%). Tần số ung thư dạ dày đã giảm tại nhiều nước trên thế giới. Ví dụ: Tại Mỹ tỉ lệ mắc năm 1930 là 331100.000 dân. Hiện nay là 7-8/100.000 dân. Người ta chưa biết rõ lý do nhưng có lẽ sự thay đổi của môi trường sống. Ở nước ta, ung thư dạ dày là bệnh gặp nhiều ở cả 2 giới đứng vị trí thứ 2 ở nam giới sau ung thư phổi và vị trí thứ 2 của nữ giới sau ung thư vú.

Hình nội soi dạ dày

Ở những vùng nguy cơ mắc bệnh thấp, khoảng tuổi hay bị ưng thư dạ dày là 50-60, hiếm gặp dưới 40 tuổi. Trong khi đó những vùng nguy cơ mắc bệnh cao, tuổi trung bình mắc bệnh thấp hơn. Dù ở vùng nào nam giới cũng mắc bệnh nhiều hơn nữ giới (2/1).

Về nguyên nhân gây bệnh còn chưa biết rõ, nhưng 3 yếu tố có liên quan sinh bệnh bao gồm: Chế độ ăn, vi khuẩn và một số thương tổn bệnh lý.

Chế độ ăn nhiều muối, những thức ăn khô, thức ăn hun khói, những thức ăn chứa nhiều nitrosamines và nitrosamindes. . . được xác định có liên quan đến sinh bệnh ung thư dạ dày. Những quan sát gợi ý rằng, những thức ăn chứa nhiều vitamin C như cam, chanh có thể trung hoà được các chất gây ung thư. Mới đây, người ta đang xem xét sự liên quan giữa viêm dạ dày do Helicobacters-pylori với ung thư dạ dày.

Một số tổn thương hoặc một số bệnh lý được coi là nguy cơ cao: viêm teo dạ dày, vô toan, thiếu máu ác tính (Biemler), di sản ruột, u tuyến của dạ dày (thông thường là những polip dạ dày, nhất là kích thước hơn 2cm phải được lấy đi). Những bệnh nhân đã được cắt dạ dày do loét có nguy cơ bị ung thư cao 2,4 lần. Loét dạ dày, hiếm khi ác tính hoá, nhưng lại khó phân biệt được những ung thư dạ dày thể loét ở giai đoạn sớm. Vì vậy, với các tổn thương loét dạ dày nếu điều trị nội khoa 6 tuần không khỏi phải được điều trị phẫu thuật.

Yếu tố di truyền: Chưa chứng minh yếu tố di truyền có liên quan đến ung thư dạ dày, ngoại trừ nhiều người bị ung thư dạ dày trong gia đình Napoleong. Những người dòng máu A cao hơn một chút, gợi ý vai trò yếu tố di truyền. Những hiểu biết mới dịch tễ học và sinh bệnh học của ung thư dạ dày đã gợi ý biện pháp dự phòng ung thư dạ dày bằng cách hạn chế các hình thức ăn ướp muối, ăn khu, giầu Nitrat và tăng tiêu thụ rau xanh, hoa quả, khuyến khích bảo quản thức ăn trong tủ lạnh.

Giải phẫu bệnh:

Hình ảnh đại thể của ung thư dạ dày gồm 3 thể: u khu trú tại chỗ (loét hoặc sùi), thể thâm nhiễm và trung gian. Vị trí của ung thư chủ yếu ở vùng môn vị (50%). tâm vị ( 10%), toàn bộ dạ dày (10%) vị trí khác (20-30%).

Ung thư dạ dày thể trai (Linite Plastique) là thâm nhiễm cứng toàn bộ dạ dày, tiên lượng xấu.

Vi thể

Ung thư biểu mô tuyến (Adenocarinome) chiếm 95% các khối u dạ dày.

Loại sa côm chiếm 5%: chủ yếu là loại u lymphô ác tính và sa côm cơ trơn Các ung thư biểu mô tuyến được chia làm nhiều thể giải phẫu bệnh. Theo Lau ren phân chia: ung thư biểu mô tuyến biệt hoá chiếm gần 50% có tiên lượng tốt hơn, loại không biệt hoá 30%, 15% là không xác định được.