Cơ hội sống cho một bệnh nhân trẻ tuổi bị ung thư tinh hoàn biểu hiện tại trung nhất

18 Tháng Tư, 2016
Cơ hội sống cho một bệnh nhân trẻ tuổi bị ung thư tinh hoàn biểu hiện tại trung nhất

Cơ hội sống cho một bệnh nhân trẻ tuổi bị ung thư tinh hoàn biểu hiện tại trung nhất

Đăng lúc: 17:09:54 03/06/2010 - Lượt xem: 1244
Bệnh diễn biến từ tháng 4 năm 2007, bệnh nhân thấy đau ngực trái, bệnh nhân đã đến khám tại một bệnh viện tại Hà nội, bệnh nhân được chẩn đoán: U trung thất, và đã được chỉ định phẫu thuật lấy u, nhưng do khối u quá lớn, xâm lấn ngay sát các mạch máu lớn nên chỉ phẫu thuật sinh thiết u mà không phẫu thuật lấy u được.
Hình ảnh chụp CT lồng ngực

Bệnh nhân Nguyễn Việt H., nam 17 tuổi đến bệnh viện Bạch Mai tháng 11 năm 2007 vì lý do: khó thở, đau ngực trái

Bệnh diễn biến từ tháng 4 năm 2007, bệnh nhân thấy đau ngực trái, bệnh nhân đã đến khám tại một bệnh viện tại Hà nội, bệnh nhân được chẩn đoán: U trung thất, và đã được chỉ định phẫu thuật lấy u, nhưng do khối u quá lớn, xâm lấn ngay sát các mạch máu lớn nên chỉ phẫu thuật sinh thiết u mà không phẫu thuật lấy u được.

Giải phẫu bệnh sau mổ: ung thư tinh hoàn (seminoma), sau đó bệnh nhân được đưa về nhà.

Lúc đó bệnh nhân và gia đình rất buồn, lo lắng vì nghĩ rằng cơ hội sống không còn.

Bệnh ngày càng tiến triển với các triệu chứng đau ngực trái tăng dần, sau đó bệnh nhân xuất hiện khó thở. Ngày 22 tháng 7 năm 2007 bệnh nhân thấy khó thở nhiều, cảm giác đau tức ngực trái tăng. Gia đình đã đưa bệnh nhân đến Trung Tâm Y học hạt nhân và Ung Bướu - Bệnh viện Bạch Mai.

Tại đây các bác sỹ khám thấy bệnh nhân có khối u thành ngực trái kích thước 5x6cm, mật độ mềm, ranh giới không rõ. Tim bị đẩy sang phải (mỏm tim ở cạnh xương ức trái); hội chứng ba giảm toàn bộ phổi trái. Tinh hoàn hai bên đủ, không thấy tổn thương u.

Bệnh nhân đã được làm thêm một số xét nghiệm đánh giá tình trạng tổn thương u và tình trạng di căn xa.

Xét nghiệm máu: Hồng cầu 4,9T/l; Hemoglobin 132g/l; Bạch cầu: 7,0 G/l; Bạch cầu trung tính 68,4%; Tiểu cầu: 187G/l. Ure: 3.9mmol/l; Creatinin: 83 µmol/l; ASAT: 75U/l; ALAT: 24U/l; βHCG:539,6 mU/ml; αFP:1,28 ng/ml; LDH: 1996 U/l

Chụp CT: + Trên hình ảnh chụp CT lồng ngực: Vùng trung thất có khối lớn xâm lấn toàn bộ khoang ngực trái gây xẹp phổi trái, tổn thương lan rộng ra vùng thành ngực

 


 

 

 

        + Trên hình ảnh chụp CT ổ bụng: có hình ảnh dịch ổ bụng, không có hạch ổ bụng; các tạng khác không có gì đặc biệt.

Xạ hình xương: không có hình ảnh tổn thương di căn xương

Bệnh nhân được chẩn đoán tràn dịch màng phổi trái/ Ung thư tinh hoàn biểu hiện tại trung thất, phúc mạc.

Sau đó bệnh nhân đã được điều trị hoá chất phác đồ VIP 04 đợt. Sau đợt điều trị hoá chất đầu tiên, khối u thành ngực thu nhỏ dần dần và sau 20 ngày truyền hoá chất tổn thương tại thành ngực đã tan (không nhìn thấy và không sờ thấy u bằng tay trên lâm sàng)

Xét nghiệm sau điều trị hóa chất: Nồng độ các chất chỉ điểm khối u trở về bình thường: βHCG: 0,158 mU/ml; αFP:2,23 ng/ml; LDH: 331 U/l

Trên phim chụp cắt lớp vi tính lồng ngực: Tổn thương u trung thất đã thu nhỏ kích thước hơn trước, phổi trái đỡ xẹp

 

 

 

Siêu âm ổ bụng: dịch ổ bụng đã hết, không thấy hình ảnh bất thường khác.

 

 

 

Bệnh nhân tiếp tục được điều trị tiếp hoá chất 03 đợt nữa (tổng cộng 04 đợt). Sau 04 đợt điều trị hoá chất tổn thương u vùng trung thất đã thu nhỏ nhiều, chỉ còn lại tổn thương xơ hoá sau điều trị.

Xét nghiệm chỉ điểm khối u cho thấy kết quả trong giới hạn bình thường: βHCG: 0,103 mU/ml; αFP:1,26 ng/ml; LDH: 221 U/l

Trong các chu kỳ điều trị hoá chất bệnh nhân có xuất hiện một số tác dụng phụ sau khi truyền hoá chất là buồn nôn, nôn, mệt, ăn uống kém. Tuy nhiên các tác dụng phụ này ở mức độ nhẹ và sau khi dùng các thuốc chống nôn, nâng cao thể trạng… các tác dụng phụ này được khống chế tốt.

Bệnh nhân tiếp tục được điều trị xạ trị vào diện tổn thương u ban đầu liều 40Gy nhằm tiêu diệt nốt những tế bào ung thư còn sót lại, đề phòng tái phát và giúp kéo dài thời gian sống thêm cho bệnh nhân.

Trong và sau quá trình điều trị xạ trị, bệnh nhân không có biểu hiện tác dụng phụ hay biến chứng gì đặc biệt.

Bệnh nhân kết thúc quá trình điều trị vào tháng 4 năm 2008. Hiện nay bệnh nhân sống và sinh hoạt bình thường.

 


 

Hình ảnh chụp cắt lớp vi tính lồng ngực: tổn thương u đã tan hết, chỉ còn lại diện tổn thương xơ hoá tại trung thất

 

Sau khi kết thúc quá trình điều trị bệnh nhân được tái khám lại cứ mỗi 3 tháng trong hai năm đầu tiên; sau đó bệnh nhân được tái khám lại cứ mỗi 6 tháng một lần.

Cho đến nay, tất cả các lần tái khám đều không thấy xuất hiện tổn thương tái phát hoặc di căn xa. Lần khám gần đây nhất của bệnh nhân là tháng 04 năm 2010 với triệu chứng lâm sàng hoàn toàn bình thường: bệnh nhân ăn, uống, sinh hoạt, lao động bình thường. Xét nghiệm chất chỉ điểm khối u cho thấy kết quả trong giới hạn bình thường: βHCG: 0,1 mU/ml; αFP:1,58 ng/ml; LDH: 220 U/l

Siêu âm ổ bụng không thấy hình ảnh bất thường.

 

 

 

 

Hình ảnh chụp cắt lớp vi tính lồng ngực: còn tồn tại tổn thương dạng xơ hoá tại trung thất, không thất tổn thương tái phát.

Bệnh nhân năm nay đã 20 tuổi hiện tại bệnh nhân sống hoàn toàn khoẻ mạnh, lao động, sinh hoạt và công tác bình thường.